Nhũ hương

Trị đau vùng thượng vị phối hợp cùng thuốc hành khí như Xuyên luyện tử, Mộc hương, Trần bì

Danh mục: Từ khóa:

1. Đặc điểm mô tả nhũ hương

– Tên thường dùng: nhũ hương, Hắc lục hương, Thiên trạch hương, Địa nhũ hương. Tên tiếng Trung: Tên thuốc: Resina oliani; olibanum

– Tên khoa học: Frankincense (nhũ hương) Mastic Họ khoa học: Boswellia carterii Birdw.

– Loại cây vừa và nhỏ, cao 4-5m, cao nhất khoảng 6m

– Lá kép dạng lông cánh lẻ. Dài 15-25cm, cuống lá có lông trắng, lá nhỏ 7-10 lá đôi, mọc đối, không cuống, vùng đáy lá rất nhỏ, hướng trên to dần.

– Hoa nhỏ, bầy thành cụm hoa có tổng trạng thưa, cánh hoa 5 cánh, màu vàng nhạt, hình trứng, dài gấp 2 lần đài hoa, mé trước nhọn.

– Phân bố, thu hái: Mọc ở các vùng ven Địa trung hải. Một cây hằng năm cho từ 3-4kg.

– Bộ phận dùng: Nhựa cây Nhũ hương.

– Bào chế: Cho một ít rượu vào nghiền nát, phi qua nước, phơi khô, hoặc nghiền tán với bột nếp.

2. Công dụng

Trị chứng kinh bế- đau kinh: phối hợp với thuốc Đương qui, Đào nhân, Hồng hoa.

Trị đau vùng thượng vị phối hợp cùng thuốc hành khí như Xuyên luyện tử, Mộc hương, Trần bì.

Thuốc phối hợp với Tần giao, Đương qui, Khương hoạt, Hải phong đằng trị chứng tý như bài Quyên tý thang ( Y học tâm ngộ).

Trị chấn thương ngoại khoa gây sưng đau: dùng các bài:

– Nhũ hương định thống tán: Nhũ hương, Xuyên khung, Một dược đều 5g, Bạch chỉ, Xích thược, Đơn bì, Sinh địa đều 10g, Cam thảo 3g, tán bột mỗi lần uống 3 – 4g, ngày 2 lần với rượu hoặc nước tiểu trẻ em chưng lên.

– Thất ly tán (Lương phương tập dịch) Nhũ hương, Chu sa, Một dược đều 5g, Hồng hoa, Huyết kiệt đều 6g, Nhĩ trà 10g, Xạ hương 2g, Băng phiến 3g, tán mịn trộn đều thành thuốc tán. Mỗi lần uống 0,2g với rượu.

Trị ung nhọt sưng đau:

– Nhũ hương tiêu độc tán: Nhũ hương, Một dược đều 5g, Đại hoàng, Hoàng kỳ, Thiên hoa phấn, Ngưu bàng tử, Mẫu lệ đều 10g, Kim ngân hoa 15g, Cam thảo 3g, sắc nước uống.

– Những nhọt vỡ lâu ngày khó lành miệng, dùng Nhũ hương, Một dược tán mịn trộn đều đắp ngoài có tác dụng tiêu sưng, sinh cơ tốt ( bài Hải phù tán trong Ngoại khoa trích lục).

Trị viêm gan, vùng gan đau: 

Dùng bài thuốc gồm: Nhũ hương, Ngũ linh chi, một dược, Miết giáp, lượng bằng nhau sắc đặc tẩm gạc đắp lên vùng đau lúc còn ấm.

Trị Nhũ hạch:

Dùng bài Nhũ một băng hoàng cao (Nhũ hương, Một dược, Hoàng bá, Đại hoàng) tán bột mịn trộn đều cho Băng phiến cất vào lọ nâu. Lúc dùng lấy tròng trắng trứng trộn thuốc cho vào gạc đắp lên vùng đau chườm nóng ngoài càng tốt, cứ 24 giờ thay thuốc cho tới khi tiêu hạch

3. Liều dùng

Thuốc uống cho vào thuốc thang, liều dùng từ 3 – 10g.

Chú ý lúc dùng: thuốc cho vào thang làm nước thuốc đục, uống dễ gây nôn, nên người đau bao tử dùng lượng nhỏ hơn, và không dùng lâu.

Không dùng cho người bệnh có thai.