1. Đặc điểm của đại táo

– Đại táo có tên gọi khác là: táo tàu, táo đen, táo đỏ

– Tên khoa học Zizyphus sativa Mill.

– Thuộc họ táo Rhamnaceae.

– Đại táo có thể cao tới 10m. lá mọc so le có dạng thành gai. Cuống lá ngắn 0,5 – 1cm, phiến lá có hình trứng, đầu hẹp lại, dài 3 – 7cm, rộng khoảng 2 – 3,5cm, mép có hình răng cưa thô, trên mặt rõ 3 gân chính, gân phụ cũng nổi rõ.

– Hoa nhỏ, mọc thành tán ở kẽ lá, cánh hoa màu vàng xanh nhạt.

– Quả hạch hình cầu hay hình trứng, khi quả non có màu nâu hoặc là màu xanh nhạt, khi chín có màu đỏ sẫm.

– Cho đến nay đại táo ta vẫn phải nhập của Trung Quốc. Tại Trung Quốc, đại táo nhiều nhất ở Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, Phúc Kiến, Tứ Xuyên…

2. Công dụng và liều dùng

– Theo tài liệu cổ đại táo có vị ngọt tính ôn vào hai kinh tỳ và vị. Có tác dụng bổ tỳ, ích khí, hòa giải các vị thuốc khác, dưỡng vi sinh tân dịch, điều hoa danh vệ.

– Dùng chữa tỳ hư sinh tiết tả, các bệnh do doanh vệ không điều hòa. Phàm đau răng,  trung mãn, đờm nhiệt không nên dùng.

– Thường dùng trong hầu hết các đơn thuốc mỗi ngày, uống từ 5 – 10 quả làm thuốc bổ tỳ vị, nhuận phế,  hòa khí huyết, chữa ho.

Đơn thuốc có đại táo

– Chữa sau khi sốt khỏi, hay ngủ, miệng khô, cổ đau: đại táo 20 quả, ô mai 10 quả, hai vị thuốc giã nát, nhào mật mà ngậm trong nhiều ngày.

– Phụ nữ có thai hay bị đau bụng: đại táo 14 quả đốt ra than cho uống.

– Trẻ con cam tẩu mã: đại táo 1 quả, hoàng bá 6g. Hai vị đốt ra thành than, rồi tán nhỏ, sát vào răng.